Nâng Cao Khả Năng Cạnh Tranh

Việc xây dựng chiến lược kinh doanh sẽ dựa vào khách hàng, bản thân doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh. Chiến lược phải xây dựng theo cách mà từ đó doanh nghiệp có thể phân biệt mình với đối thủ cạnh tranh tích cực do sử dụng những sức mạnh tương đối của mình để thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Michael Porter cho rằng khả năng cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận . Theo đó, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là yếu tố nội hàm của doanh nghiệp và chúng được so sánh với các đối thủ khác trên cùng một sản phẩm, lĩnh vực và thị trường. Việc phân tích nội lực của công ty để nhận ra được những điểm mạnh và yếu của doanh nghiệp từ đó nó sẽ được đánh giá thông qua việc so sánh với các đối thủ cạnh tranh.

Nâng cao khả năng cạnh tranh

CCHCNN để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đạt được các chỉ tiêu của NLCTQG. Ngược lại kiến tạo, hội đủ các chỉ tiêu của NLCTQG cũng tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện thành công CCHCNN, cải cách quản lý, quản trị đất nước. CCHCNN là để mở cửa hội nhập quốc tế, phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, khoa học và công nghệ. Mục tiêu của CCHCNN cũng là để đạt được các chỉ tiêu cơ bản của NLCTQG, vì NLCTQG là tổng hợp các thể chế, chính sách và nhân tố quyết định mức độ, hiệu quả của NLCTQG. Đây là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh kết quả kinh doanh đồng thời cũng phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Bổ sung những cán bộ, lao động đủ tiêu chuẩn, có triển vọng phát triển, đồng thời thay thế những cán bộ, nhân viên không đủ năng lực, không đủ tiêu chuẩn, vi phạm pháp luật và đạo đức. Đây là giải pháp quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ hiện có mà chưa cần đến việc đào tạo, bồi dưỡng. Khi thu nhập của đại bộ phận dân cư đều tăng, khoa học kỹ thuật phát triển thì việc doanh nghiệp định giá thấp chưa hẳn là giải pháp hữu hiệu, đôi khi còn bị đánh đồng với việc suy giảm chất lượng. Vì vậy, định giá thấp, định giá ngang thị trường hay định giá cao, làm sao sử dụng giá cả như một vũ khí cạnh tranh lợi hại là tùy thuôc vào chiến lược marketing của doanh nghiệp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trong chu kỳ sản phẩm hay tùy thuôc vào đặc điểm của từng vùng thị trường. Mặc dù 12 chỉ số trụ cột được đo lường riêng biệt, nhưng trên thực tế, các trụ cột này và các chỉ số thành phần đều liên quan đến nhau và tương tác, hỗ trợ cho nhau.

Dịch Vụ Viết Thuê Luận Án Tiến Sĩ

Khi một công ty cung cấp một sản phẩm mới cho thị trường thì xá đối thủ cạnh tranh cũng đưa ra được rất nhiều loại sản phẩm tường tự nếu không nói là hoàn toàn giống nhau. Mặt khác, nếu quan tâm đến độ đồng nhất giữa các chỉ số thành phần ta thấy có một số xuất hiện ở hầu hết các nghiên cứu – phản ánh tầm mức quan trọng của chúng trong khái niệm “khả năng cạnh tranh vùng” – như khả năng đổi mới, xuất khẩu, chất lượng lực lượng lao động, việc làm cao cấp và cơ sở hạ tầng thông tin. Tuy nhiên cũng có nhiều chỉ số thành phần khác phản ánh sự phát triển bền vững, đặc biệt liên quan tới các vấn đề xã hội và môi trường, chưa được tích hợp nhiều trong các nghiên cứu kể trên. Điều này cho thấy nhiều nghiên cứu vẫn xem khả năng cạnh tranh vùng như một khái niệm thuần túy thuộc lĩnh vực kinh tế. Nhận định này cũng phù hợp với đánh giá của các tác giả khác khi khảo sát các chỉ số tổng hợp với số lượng nhiều hơn (Greene et al., 2007 hay Berger, 2011).

  • Việt Nam cũng đưa ra chiến lược tăng trưởng xanh và chuyển đổi số là công cụ để phát triển.
  • Nâng cao nhận thức của mọi thành viên trong từng doanh nghiệp, không chỉ từ đội ngũ lãnh đạo, quản lý mà ngay cả đội ngũ người lao động về ý nghĩa sống còn của việc giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm.
  • Tuy nhiên, trong điều kiện nhiều doanh nghiệp còn thiếu vốn, tiềm lực tài chính chưa đủ mạnh để đầu tư đồng bộ công nghệ và thiết bị thì các doanh nghiệp này cần chủ động trong việc liên kết và hợp tác kinh doanh với nhau.
  • Hầu hết các chỉ số đo năng lực cạnh tranh vùng mang bản chất tĩnh và tập trung vào một vài khía cạnh của vùng, trong khi bản thân quá trình cạnh tranh mang tính động.

Nó đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hay không mua của khách hàng. Trong nền kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh của các doanh nghiệp, khách hàng là thượng đế, họ có quyền lựa chọn những gì mà họ cho là tốt nhất. Với cùng một loại sản phẩm với chất lượng tương đương nhau, chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá bán thấp hơn đối với sản phẩm mà họ cần mua. Với Đà Nẵng, mặc dù thành phố dẫn đầu toàn quốc về Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, thực tế cho thấy năng lực cạnh tranh của từng DN vẫn còn rất hạn chế so với các tỉnh, thành trên cả nước, chưa kể đối với các DN các nước khác.

Doanh nghiệp bị kẹt giữa các chiến lược này cần thực hiện một quyết định chiến lược cơ bản. Vấn đề này được đặt ra ở khía cạnh không phải chỉ là để tạo điều kiện cho họ an tâm làm việc mà còn xét đến ở khía cạnh kinh tế nhằm nâng cao sức cạnh tranh. Các doanh nghiệp logistics Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với việc cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp logistics nước ngoài. Mọi doanh nghiệp đều thuộc lòng nhận định “khủng hoảng kinh tế không có chỗ cho sự lãng phí”. + Đối với đối thủ tiềm năng, thì chiến lược này tạo ra được rào chắn hạn chế sự tham gia nhập nghành.

Có 7/12 lĩnh vực mà Việt Nam thậm chí còn đứng sau một vài nước ASEAN-4 về thứ hạng toàn cầu. Khả năng theo kịp các nước ASEAN-6 còn xa, trong khi nguy cơ bị các nước ASEAN-4 vượt qua cũng là một thách thức. Sau 2 năm chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, Lễ hội Đền Trần tháng 8 năm Nhâm Dần 2022, kỷ niệm 722 năm ngày hóa Đức Thánh Trần sẽ được tổ chức trở lại.

Định vị Việt Nam trên bản đồ cường quốc gôn thế giới – Bài 1: Du lịch gôn: “Mỏ kim cương” của ngành kinh tế xanh

Theo Sở Y tế Nam Đinh, tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát tốt, số ca nhiễm bình quân ở mức thấp. Hội thảo “Phát triển du lịch cộng đồng gắn với Metaverse” là một trong 4 phiên họp quan trọng của Techfest Việt Nam 2022 tại Lai Châu. Mời các bạn tham gia vào group Diễn đàn Doanh nghiệp để thảo luận và cập nhật tin tức. Để phục vụ nhu cầu đi lại, du lịch của hành khách trong dịp nghỉ lễ 2/9, Vietnam Airlines cung ứng thêm chỗ trên các đường bay nội địa. Luật thủ tục hành chính và làm thế nào để xác định những cơ hội mới hoặc. Kỹ năng về quan hệ với con người, hiểu con người và biết thu phục lòng người,.

Chúng ta có thể thấy rằng, trong nền kinh tế toàn cầu như hiên nay, việc quản trị chuỗi cung ứng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động của mọi doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp thực hiện quản trị tốt chuỗi cung ứng sẽ đem lại hiệu quả tốt trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số dùng để đo lường mức độ sinh lời của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ suất lợi nhuận càng lớn thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao. Chu kỳ sống của sản phẩm hay vòng đời của sản phẩm là khoảng thời gian mà từ khi nó được đưa ra thị trường cho tới khi nó không còn tồn tại trên thị trường nữa.

Nâng cao khả năng cạnh tranh

Bảo vệ, nuôi dỡng và giới hạn bởi các thể chế, chính sách và pháp luật của Nhà nớc. Mặc dù, lượng khí đốt qua trạm Sudzha tăng nhẹ song không đủ để bù đắp lượng khí bị thiếu, vốn được dự kiến bơm qua Nord Stream 1 trong ngày 3/9. Thư viện Học liệu Mở Việt Nam được tài trợ bởi Vietnam Foundation và vận hành trên nền tảng Hanoi Spring.

CEO luôn đóng vai trò chủ chốt trong việc hoạch định và quản trị chiến lược, qua đó giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đề ra một cách… Đa số là các doanh nghiệp logistics của Việt Nam đều nhỏ và siêu nhỏ, cung cấp các dịch vụ chưa có giá trị gia tăng cao. Năng lực cạnh tranh; năng lực cạnh tranh vùng; năng lực cạnh tranh đô thị. Thị phần của dự án so với phần thị trường mục tiêu mà dự án hướng tới là tỷ lệ % giữa doanh số bán sản phẩm của dự án so với doanh số bán sản phẩm tương tự của toàn bộ các doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu. Được đo bằng tỷ lệ doanh thu hay số lượng sản phẩm của DN trong một giai đoạn nhất định so với tổng doanh thu hay sản lượng tiêu thụ trên thị trường. Tập đoàn Unilever đã công bố Kế hoạch Phát triển bền vững và coi đây là trọng tâm, là kim chỉ nam của tập đoàn, nhằm mục tiêu tăng trưởng gấp đôi, đồng thời giảm tác động đối với môi trường và tăng cường ảnh hưởng xã hội tích cực trong 10 năm tới.

Tiết kiệm được các chi phí đầu tư so với việc đầu tư vào nhiều hệ thống rời rạc, không thống nhất. Chúng ta vẫn thường lầm tưởng rằng việc học chỉ dành cho những bạn trẻ muốn trau dồi kinh nghiệm, còn cấp quản lý thì chẳng việc gì phải học… Trương Thu Hương & Đỗ Văn Chúc , Giải pháp để doanh nghiệp nhỏ và vừa trụ vững trong đại dịch Covid 19. Theo báo cáo logistics Việt Nam năm 2021 của Bộ Công Thương, trong 9 tháng năm 2021, số doanh nghiệp vận tải, kho bãi đăng ký thành lập mới tăng 4,61%, số vốn tăng 43% so với cùng kỳ năm 2020.

Ví dụ thay vì tạo ra các loại mỳ cho mỗi sở thích khách hàng thì chỉ tạo một loại mì mà khách hàng nào cũng có thể chấp nhận. Nhờ vậy thay vì chỉ tập trung phục vụ 10 khách hàng thì nay họ hướng tới phục vụ 100 khách hàng. Ba là, một vấn đề nữa trong phát huy nhân tố con người để nâng cao sức cạnh tranh là giải quyết thoả đáng chế độ tiền lường. Ở cấp này, đôi khi bản thân một quốc gia thành viên được coi là một vùng như trường hợp Đan Mạch và nhiều quốc gia thành viên nhỏ khác. Mỗi bang của Đức, vùng hành chính của Anh, nhóm bang của Áo, vùng liên tỉnh của Bỉ và nhóm liên vùng hành chính của các nước thành viên khác cũng là một vùng. Các nghiên cứu thuộc nhóm thứ hai đa dạng hơn, áp dụng nhiều chỉ tiêu, phương pháp tổng hợp chỉ tiêu khác nhau, cũng như nhiều trọng số khác nhau, phản ánh kết quả tương tác của rất nhiều nhân tố với quy mô và phạm vi khác nhau.

Chính sách, pháp luật cạnh tranh có thể một mặt khuyến khích khả năng sáng tạo của các chủ thể, mặt khác phải kiềm chế những hành vi cạnh tranh mang tính thủ đoạn nhằm tiêu diệt đối thủ của doanh nghiệp. Một quan niệm được hình thành tương đối sớm và được nhắc đến nhiều nhất là của Liên minh Châu Âu . Theo đó năng lực cạnh tranh vùng là khả năng sản xuất sản phẩm và dịch vụ đáp ứng được sự kiểm định của thị trường thế giới, cùng lúc duy trì được mức thu nhập cao và bền vững; hay là khả năng đem lại mức thu nhập và việc làm tương đối cao trong khi phải đối mặt với sự cạnh tranh từ bên ngoài. Nói cách khác, đó chính là khả năng tăng trưởng bền vững của mức sống một vùng trong khi đảm bảo mức thấp nhất của thất nghiệp không tự nguyện. Một vùng được xem là có khả năng cạnh tranh thì điều quan trọng là đảm bảo được cả số lượng và chất lượng việc làm .

Vấn đề “năng lực cạnh tranh” đã thu hút được nhiều sự quan tâm và thảo luận của cả giới học giả và hoạch định chính sách trong thời gian qua. Trong đó, một trong những khía cạnh quan trọng được đem ra phân tích và gây nhiều tranh cãi là cấp độ của năng lực cạnh tranh. Tham gia sâu vào phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế, tăng cường giao lưu vốn, lao động, khoa học công nghệ với các nước trên thế giới.

(thitruongtaichinhtiente.vn) – Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội vừa phối hợp với Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi). Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp TS.Nguyễn Văn Hiển và Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Phương Tuấn đồng chủ trì Hội thảo. Nhãn hiệu sản phẩm có hai chức năng cơ bản đó là cho biết xuất xứ hàng hóa và phân biệt với hàng hóa của các doanh nghiệp khác. Đây là mô hình bao gồm tất cả những chức năng cơ bản, cần thiết của một đơn vị, tổ chức. Năm là, tăng cường kết nối khu vực và coi trọng các giải pháp phát triển bền vững. Xây dựng kế hoạch, triển khai hiệu quả Chương trình Nghị sự 2030 của Liên Hợp Quốc về phát triển bền vững.

Do vậy, năng lực cạnh tranh ở cấp độ này là khả năng một quốc gia sản xuất các hàng hóa và dịch vụ, trong các điều kiện thị trường tự do và công bằng, đáp ứng được đòi hỏi của thị trường quốc tế; đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế của dân cư trong dài hạn . Nhiều người cho rằng khái niệm năng lực cạnh tranh xuất phát từ cấp độ doanh nghiệp, sau đó mới được vận dụng để áp dụng cho các cấp độ khác . Ở cấp độ vi mô hay doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là tiềm năng hay khả năng của một doanh nghiệp tồn tại, phát triển và kiếm lời, có tính đến sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác trên thị trường. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau vì thị phần, nguồn lực và trên hết là lợi nhuận. Do đó khả năng cạnh tranh của chúng tương đối dễ định nghĩa, thông qua các chỉ tiêu như thị phần, tăng trưởng sản lượng, tỷ suất lợi nhuận hay khả năng sáng tạo các sản phẩm hay quy trình sản xuất mới.

Đây là những trọng tâm chính trong hoạch định chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn tới. Năng suất lao động là thuật ngữ dùng để chỉ mức độ hiệu quả của quá trình sử dụng lao động. Năng suất lao động thường được xác định thông qua các chỉ tiêu hiện vật hoặc giá trị.

Công bằng xã hội trong phát triển ở Việt Nam: Nhìn từ lĩnh vực quan hệ kinh tế

Hiện nay, không có một khung khổ lý thuyết nào bao trùm việc phân tích năng lực cạnh tranh vùng. Các cách tiếp cận và lý thuyết khác nhau mang lại cách hiểu khác nhau và nhấn mạnh đến các nhân tố và quá trình trọng yếu khác nhau. Một mặt, xét từ kết quả đầu ra, năng lực cạnh tranh vùng liên quan tới việc duy trì mức tăng thu nhập và việc làm của dân cư. Hai quá trình trên không tách rời và mang tính nhân quả tích lũy, củng cố lẫn nhau. Ngoài ra các nhân tố “mềm” ngày các có ý nghĩa quan trọng, so với các nhân tố “cứng” truyền thống. Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn khẳng định, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đang bước sang một giai đoạn mới sâu rộng hơn.

Trong khi đó, Meyer-Stamer cho rằng năng lực cạnh tranh vùng là khả năng của một địa phương hoặc khu vực trong việc mang lại thu nhập cao và không ngừng tăng, và cải thiện đời sống của cư dân sinh sống ở đó. Khái niệm này tập trung vào mối quan hệ mật thiết giữa năng lực cạnh tranh và sự thịnh vượng của vùng, nhấn mạnh các vùng có tính cạnh tranh không chỉ bằng những thước đo đầu ra như năng suất mà còn bằng thành tựu kinh tế tổng hợp như sự thịnh vượng tương đối được duy trì và cải thiện. Khả năng đó có được chỉ khi tăng trưởng bền vững đạt được ở mức việc làm thúc đẩy mức sống tổng thể . CCHC là một cuộc cách mạng vừa có ý nghĩa chính trị, ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn, toàn diện và sâu sắc. Cuộc cách mạng này ngoài quyết tâm chính trị cao cần phải có trí tuệ sáng suốt ở tầm chiến lược trong xác định và chỉ đạo điều hành thực hiện chủ trương, mục tiêu, các nhiệm vụ của CCHC.

Michael Porter, nhà kinh tế học nổi tiếng về năng lực cạnh tranh không chỉ ở Hoa Kỳ mà trên toàn thế giới lại cho rằng, của cải nhiều hay ít là do năng suất của doanh nghiệp sản xuất quyết định. Toàn cầu hóa khiến cho cạnh tranh trở nên lành mạnh hơn nhưng đồng thời cũng khốc liệt hơn. Một vùng không thể chỉ là tổng số giản đơn của các doanh nghiệp hay là hình ảnh thu nhỏ của một quốc gia (Gardiner et al., 2004) và mức độ trung gian của nó không dễ để mô tả một cách đầy đủ và rõ ràng. Khả năng cạnh tranh của một vùng có quan hệ chặt chẽ với khả năng cạnh của các doanh nghiệp trong đó; đồng thời cũng gắn bó với khả năng cạnh tranh quốc gia với những khuôn khổ chung chi phối sự phát triển của nó. Vì vậy, khả năng cạnh tranh của vùng không thể quy về một trong hai cấp độ vi mô và vĩ mô mà nằm đâu đó giữa hai cấp độ trên (Camagni, 2002; Martin, 2003).

Có thể nói, nâng cao năng suất lao động là nhiệm vụ “sống còn” đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Thứ năm, môi trường kinh doanh là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh cạnh tranh của doanh nghiệp. Những năm qua, môi trường kinh doanh của Việt Nam, đã có sự cải thiện rất đáng kể, thứ hạng của Việt Nam đã vươn lên mức trung bình của thế giới và khu vực. Tuy nhiên, trong năm 2018, thứ hạng và số cải cách của Việt Nam so với năm trước lại có sự giảm nhẹ.

  • Nhãn hiệu sản phẩm cũng được xem là một tiêu chí đánh giá khả năng cạnh trang của sản phẩm.
  • Khả năng cạnh tranh có cao hay không là do uy tín, chất lượng sản phẩm trên thị trường.
  • Mặc dù thương mại mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia ở những mức độ khác nhau, nhưng hiệu quả cao nhất luôn thuộc về những quốc gia biết khai thác tôt nhât lợi thế so sánh của mình trong thương mại.
  • Thêm vào đó còn tồn tại tác phong lề lối làm việc bảo thủ, trì trệ chưa được khắc phục, là thách thức không nhỏ đến tiến trình của CCHC.

Trong điều kiện hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới , để tồn tại và đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp cần phải cạnh tranh gay gắt với không chỉ với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các Công ty tập đoàn xuyên quốc gia. Quá trình cạnh tranh sẽ đào thải các doanh nghiệp không đủ năng lực cạnh tranh để đứng vững trên thị trường . Mặt khác cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cố gắng trong hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh của mình để tồn tại và phát triển . Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang phát triển nhanh nhiều công trình khoa học công nghệ tiên tiến ra đời tạo ra các sản phẩm tốt, đáp ứng nhu cầu mọi mặt của con người. Người tiêu dùng đòi hỏi ngày càng cao về sản phẩm mà nhu cầu của con người thì vô tận, luôn có ” ngách thị trường ” đang chờ các nhà doanh nghiệp tìm ra và thoả mãn. Do vậy các doanh nghiệp phải đi sâu nghiên cứu thị trường , phát hiện ra những nhu cầu mới của khách hàng để qua đó có thể lựa chọn phương án phù hợp với năng lực kinh doanh của doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu khách hàng .

Lợi thế của công ty theo chiến lược này là họ rất hiểu khách hàng, các công ty khác khi nhảy vào phân khúc này hoặc là sẽ không thể chịu nổi giá bán đó hoặc không thể tạo ra sự khác biệt mới để chiếm khách hàng. Các công ty lớn có tiềm lực cũng sẽ không buồn tấn công vào phân khúc nhỏ đó vì không bõ công. Có thể nói, sức sáng tạo của con người là một sức mạnh vô tận đã giúp con người chinh phục, chiến thắng thiên nhiên và làm nên những kỳ tích to lớn để tồn tại và phát triển. Vấn đề là phải làm sao giải phóng được những tiềm năng và sức sáng tạo này, đừng vì những suy nghĩ hẹp hòi, ganh đua mà triệt tiêu động lực sáng tạo và sức cống hiến của họ.

Tuy nhiên thường thì khó có thể tính toán được chỉ tiêu này vì khó có số liệu đầy đủ. Thị phần tương đối là tỷ lệ so sánh về doanh số của dự án với đối thủ cạnh tranh lớn nhất. Hệ thống tổ chức gọn nhẹ là hệ thống tổ chức ít cấp, linh hoạt, dễ thay đổi khi môi trường kinh doanh thay đổi, quyền lực được phân chia để mệnh lệnh truyền đạt được nhanh chóng, góp phần tạo ra năng suất cao.

Nâng cao khả năng cạnh tranh

Năng suất của nguồn nhân lực quyết định hiệu quả lao động phản ánh qua tiền lương, còn năng suất sử dụng vốn quyết định lợi tức mà mỗi đồng vốn có thể mang lại cho người có vốn. NLCTQG là tập hợp những nhân tố tạo nên khả năng và lợi thế cạnh tranh của đất nước, phản ánh năng lực thu hút đầu tư để đạt được sự tăng trưởng kinh tế một cách bền vững, từ đó bảo đảm ổn định kinh tế – xã hội và nâng cao mức sống của Nhân dân. Có được một lượng lớn khách hàng quan trọng ban đầu cho một hệ sinh thái mới là yếu tố quyết định để thành công. Khi công ty công nghệ Alibaba bắt đầu phát triển công ty dịch vụ tài chính Ant Financial, họ đã quyết định tạo ra ứng dụng Ant Fortune để thu hút người tiêu dùng Trung Quốc, những người có nhiều lựa chọn về các sản phẩm đầu tư và quản lý tiền bạc.

Chiến lược khác biệt hoá – nếu thực hiện thành công – là một chiến lược bền vững giúp công ty đối phó được với 5 yếu tố cạnh tranh một cách hiệu quả, và thu được lợi nhuận trên mức trung bình trong ngành. Chiến lược chi phí thấp giúp doanh nghiệp có mức lợi nhuận cao, bảo vệ doanh nghiệp trước các khách hàng, nhà cung cấp mạnh, tạo ra một hàng rào chống gia nhập cao, giảm sự đe doạ của các sản phẩm thay thế. Khi Rolls-Royce thành lập nhà máy sản xuất động cơ máy bay đầu tiên ngoài Vương quốc Anh ở Singapore, lúc đó không có sẵn nguồn lao động có tay nghề phù hợp ở Singapore hoặc ở khu vực, công ty đã quyết định thúc đẩy một hệ sinh thái phát triển tài năng. Nhờ đó, mọi công việc trong doanh nghiệp được cập nhật đầy đủ, chi tiết và khoa học nhất trên phần mềm, bạn có thể dễ dàng theo dõi.

  • Ngoài ra, cạnh tranh còn là cơ chế kích thích các doanh nghiệp cải tiến công nghệ sản xuất và đổi mới, sắp xếp cơ cấu tổ chức sao cho hiệu quả.
  • Sản phẩm càng chất lượng, giá cả phải chăng thì sẽ càng thu hút khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
  • Đặc biệt, cần đề cao quá trình chuyển đổi số trong quản lý logistics thông qua những ứng dụng cảng điện tử, giám sát tự động ứng dụng công nghệ điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo vào các hoạt động hỗ trợ và chăm sóc khách hàng, đồng thời phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
  • Mối nguy cơ có đối thủ gia nhập mới trong một ngành phụ thuộc vào hàng rào chống gia nhập, cùng với những phản ứng chống gia nhập – có thể dự đoán được – từ những công ty hiện hữu.

Thông qua năng suất lao động chúng ta có thể đánh giá được trình độ của nguồn lao động, trình độ quản lý cũng như trình độ khoa học – kỹ thuật của doanh nghiệp, từ đó đánh giá được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ khác trên thị trường. Về bản chất xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi bối cảnh nền kinh tế đáp ứng được hai điều kiện. Đó là việc công nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau; phải có sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Sự độc lập, tự chủ, tự do sẽ giúp doanh nghiệp phát huy tối đa khả năng, sức sáng tạo, sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả nhất. Tuy nhiên, nếu để quyền tự do của doanh nghiệp quá lớn sẽ tạo ra những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế – xã hội nên cần phải có hệ thống chính sách, pháp luật cạnh tranh.

Các công ty có thể thay đổi quyền lực cạnh tranh của các nhà cung cấp bằng cách đe doạ tích hợp ngược, xoá bỏ chi phí chuyển đổi và những chiến lược khác. Thời đại công nghệ 4.0, nền kinh tế thị trường với các cuộc cách mạng công nghiệp hóa – hiện đại hóa diễn ra sôi nổi, số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng trên mọi lĩnh vực. Ngoài ra để đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm của dự án, các khía cạnh sau cũng được xem xét đến như công tác tiếp thị sản phẩm của dự án, tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm (hai phần được trình bày ở mục trên phần 3). Giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định thị phần của doanh nghiệp và khả năng sinh lời.

Trên góc độ kinh tế, năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Trên đây là 5 chiến lược cạnh tranh giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường. Hy vọng bài viết mà chúng tôi cung cấp có ích cho bạn và doanh nghiệp của mình. Nếu bạn có câu hỏi, thắc mắc hoặc cần tư vấn đầu tư về các hoạt động doanh nghiệp và định hướng các chiến lược kinh doanh trong tương lai có thể liên hệ với ABCoach – Tư vấn và huấn luyện doanh nghiệp.

Điểm quan trọng nhất của các giả định này là cho phép tiến bộ công nghệ là quá trình nội sinh của tăng trưởng vùng và tích lũy kiến thức quyết định lợi tức tăng dần. Những điều trên làm cho các nhân tố “mềm” có tầm quan trọng ngày càng tăng so với các nguồn lực sản xuất truyền thống (tài nguyên, lao động và vốn). Quan điểm về năng lực cạnh tranh của cách seo tổng thể website Porter nhìn chung là sự kết hợp giữa nhiều cấp độ (vi mô và vĩ mô), nhiều chủ thể (doanh nghiệp, ngành và nhà nước), nhiều khía cạnh (kinh tế và xã hội); và do đó có thể vận dụng linh hoạt tùy giác độ nghiên cứu (địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế). Vì vậy, mô hình viên kim cương sau này được nhiều tác giả khác kế thừa, sửa chữa và mở rộng.

Previous post Xu Hướng Doanh Nghiệp SEO Tổng Thể 2022
Next post Cách CreativeVietnam SEO Áp Dụng Chiến Lược SEO Tổng Thể Cho Các Dự Án